Hiến máu

Các hoạt động về tế bào gốc của chuyên khoa Huyết học - Truyền máu Việt Nam quá khứ - hiện tại và tương lai

(Đăng nguyên bài báo cáo của GS.TS. Nguyễn Anh TríViện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương tại Hội nghị khoa học toàn quốc về tế bào gốc lần thứ II)

GS.TS. Nguyễn Anh Trí; báo cáo tại Hội nghị khoa học về Tế bào gốc lần thứ 2 năm 2013

I. Những hoạt động về Tế bào gốc của chuyên khoa Huyết học – Truyền máu trong quá khứ và hiện tại (đến quý 1 năm 2013)
 1. Những việc đã làm được: 
1.1. Công tác tổ chức triển khai các hoạt động ghép:
 
 - Có thể nói ở Việt Nam các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng ghép Tế bào gốc xuất hiện sớm nhất là trong lĩnh vực Huyết học – Truyền máu. Ngay từ năm 1995, dưới sự chủ trì của PGS. Trần Văn Bé, nhóm các cán bộ khoa học tại Trung tâm Truyền máu – Huyết học (nay là Bệnh viện Truyền máu – Huyết học, thành phố Hồ Chí Minh) đã ghép tế bào gốc tủy xương cho một bệnh nhân 26 tuổi bị CML.       Cho đến nay, sau 18 năm bệnh nhân vẫn còn sống hoàn toàn khỏe mạnh, đã có vợ và 02 con. Đây chính là trường hợp ghép tế bào gốc thành công đầu tiên ở Việt Nam. Từ đó đến nay, bệnh viện Truyền máu - Huyết học thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai một cách khá đều đặn việc nghiên cứu, thu thập và ghép tế bào gốc để điều trị các bệnh lý cơ quan tạo máu.
 
- Cho đến nay, trên phạm vi cả nước đã có nhiều cơ sở tham gia vào các hoạt động tế bào gốc, cụ thể:
 
+ Bệnh viện Truyền máu - Huyết học thành phố Hồ Chí Minh đã có Trung tâm Tế bào gốc máu cuống rốn (từ năm 2000), có bộ phận thu gom, xử lý, bảo quản tế bào gốc và khu lâm sàng ghép tế bào gốc; đã thực hiện ghép tế bào gốc điều trị bệnh lý huyết học từ năm 1995.
 
+ Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương đã triển khai một cách đồng bộ các bộ phận gồm: Trung tâm Tế bào gốc - do Bộ Y tế ký Quyết định thành lập, có thể thu thập Tế bào gốc từ cả máu ngoại vi, máu cuống rốn và tủy xương; Labo Tế bào gốc/ labo ghép và khoa Lâm sàng Ghép tế bào gốc (khoa H8). Đã thực hiện ghép tế bào gốc điều trị bệnh lý huyết học từ năm 2006.
 
+ Các cơ sở khác như: Bệnh viện trung ương quân đội 108, Bệnh viện TW Huế, Bệnh viện Nhi TW, Bệnh viện 198 – Bộ Công an, bệnh viện Bạch Mai đều đã tổ chức các khoa/phòng/bộ phận ghép tế bào gốc có thể đáp ứng được công việc.
 
Và đã thực hiện ghép tế bào gốc điều trị bệnh lý huyết học, Cụ thể là: Trung tâm Huyết học – Truyền máu Huế từ 2003, Bệnh viện TW Quân đội 108 từ 2004, Bệnh viện Nhi TW  từ 2006, Trung tâm Huyết học-Truyền máu Bệnh viện 198-Bộ Công an từ 2010 và bệnh viện Bạch mai từ 2012.
 
   Đó chính là cơ sở vật chất cho các cơ sở Huyết học-Truyền máu trong cả nước triển khai các hoạt động ghép Tế bào gốc để điều trị các bệnh lý huyết học.
 
  - Một số Trung tâm Tế bào gốc khác cũng được thành lập, như Trung tâm tế bào gốc MEKOSTEM của Mecophar để thu thập, xử lý, lưu giữ máu cuống rốn…và bước đầu cũng đã cung cấp Tế bào gốc cho việc ghép để chữa một số bệnh lý huyết học. 
 
1.2. Những kết quả đạt được về ghép Tế bào gốc trong lĩnh vực Huyết học-Truyền máu ở Việt nam:
 
- Số lượng các ca bệnh được tiến hành ghép tại các trung tâm không ngừng được tăng lên, đặc biệt là từ năm 2006 đến nay. Tăng nhiều nhất vẫn là ở các cơ sở: Viện Huyết học – Truyền máu TW, Bệnh viện Truyền máu – Huyết học thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện nhi TW .
 
 Cập nhật đến tháng 01/2013, trên phạm vi cả nước, số lượng các ca bệnh nhân bị bệnh máu đã được tiến hành ghép như sau:

Bảng 1: Phân bố các trường hợp ghép tế bào gốc cho bệnh máu theo các cơ sở.

STT

Cơ sở thực hiện

(từ năm)

Ghép tự thân

Ghép đồng loại

Tổng số

1

Viện Huyết học – Truyền máu TW (từ 2006 đến nay)

44

21

65

2

Bv. Truyền máu – Huyết học Tp. HCM (từ 1995 đến nay)

66

55

121

3

Bệnh viện 108 (từ 2004 đến nay)

06

00

06

4

Bệnh viện TW Huế

(từ 2003 đến nay)

05

00

05

5

Bệnh viện Nhi TW

(từ 2006 đến nay)

00

12

12

6

Bệnh viện 198 (từ 2010 đến nay)

02

00

02

7

Bệnh viện Bạch mai (từ 2012 đến nay)

01

0

01

TỔNG

123

87

212

 
 
 Ghép tự thân chủ yếu áp dụng cho các nhóm bệnh Đa u tủy xương, U lympho ác tính; Còn ghép đồng loại chủ yếu cho LXM cấp, LXM kinh dòng hạt, suy tủy xương, Hội chứng Rối loạn sinh tủy, Thalassemia ….
 
- Bên cạnh đó, các Viện, Bệnh viện, khoa Huyết học – Truyền máu đã phối hợp với các cơ sở điều trị khác để thực hiện ghép tế bào gốc cho các bệnh lý không thuộc huyết học nữa. Cụ thể: 
 
+ Bệnh viện 108 phối hợp với Bệnh viện Việt Đức đã sử dụng tế bào gốc tự thân điều trị các bệnh lý xương, khớp khó hồi phục được 277 bệnh nhân  (khớp giả, mất đoạn thân xương dài: 179 bệnh nhân; Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi: 35 bệnh nhân; Mất đoạn xương, kéo dài chi: 34 bệnh nhân; Thoái hóa khớp gối: 29 bệnh nhân); Kết hợp với Bệnh viện Tim Quốc gia dùng tế bào gốc điều trị suy tim sau nhồi máu ở tim được 37 bệnh nhân. Đây quả là những thành tích rất đáng ghi nhận.
 
+ Bệnh viện TW Huế áp dụng tế bào gốc điều trị cho bệnh nhân tiêu chỏm xương đùi được 06 ca, đang hướng tới điều trị cho bệnh nhân K vú, K buồng trứng, nhồi máu cơ tim,… 
 
+ Các cơ sở như Khoa Huyết học – Truyền máu, bệnh viện Bạch Mai; Bệnh viện Chợ Rẫy, … cũng đang tiến hành ghép tế bào gốc cho các bệnh lý huyết học và ngoài huyết học.
 
- Về kết quả (sẽ có những báo cáo cụ thể), nhìn chung là tốt và đầy triển vọng: Đối với bệnh máu, ghép tự thân tỷ lệ thành công dao động từ 65-70%; Còn ghép đồng loại tỷ lệ thành công dao động từ 70-75%. Ghép tế bào gốc điều trị các bệnh lý khác thì tỷ lệ thành công cũng khá cao, đặc biệt là nhóm bệnh lý xương khớp: thường là trên 80%.
 
- Hầu hết các cơ sở đã nắm vững kỹ thuật (từ thu thập, điều chế, sản xuất, lưu trữ, bảo quản, sử dụng tế bào gốc); cũng như đã thực hiện được thành thạo các biện pháp để điều kiện hóa, điều trị ở giai đoạn giảm bạch cầu sâu, điều trị ghép chống chủ, điều trị khi có hiện tượng thải ghép; Đặc biệt một số cơ sở đã thực hiện được các kỹ thuật chuyên sâu về HLA, phát hiện bệnh tồn dư tối thiểu, Chimerism … Nhờ đó việc thực hiện ghép tế bào gốc đã rất tốt, bài bản và hiệu quả cao. 
 
 Đã có những cải tiến sáng tạo để thực hiện ghép tế bào gốc được tốt hơn, như: ghép tế bào gốc từ nhiều mẫu máu tế bào gốc cuống rốn phù hợp cho một bệnh nhân, ghép tế bào gốc từ máu ngoại vi đông lạnh, ghép tế bào gốc diệt tủy tối thiểu, ghép tế bào gốc trên bệnh nhân có HCV dương tính, ghép tế bào gốc trên bệnh nhân không có sự hòa hợp đủ 6/6 gen, …. Và qua đó chúng ta cũng đã rút ra được những kinh nghiệm quý báu.
 
- Nhờ việc tiến hành ghép tế bào gốc tại cơ sở Huyết học – Truyền máu trong nước nên đã hạn chế đến mức tối đa chi phí của người bệnh, trung bình mỗi ca ghép tế bào gốc tự thân chi phí khoảng 180-220 triệu VNĐ, ghép tế bào gốc đồng loại khoảng 300-380 triệu VNĐ. So với việc ghép ở nước ngoài thì bệnh nhân đỡ tốn kém hơn rất nhiều.
 
- Do kết quả điều trị tốt và chi phí giảm cho nên rất nhiều bệnh nhân đã ở lại Việt Nam điều trị, thậm chí có bệnh nhân đang điều trị ở nước ngoài đã trở về nước điều trị.
1.3. Những kết quả trong việc đào tạo cán bộ, hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học:
 
- Trong gần 15 năm vừa qua công tác đào tạo cán bộ đã được khởi động và duy trì đều đặn, đặc biệt trong vài năm trở lại đây thì tất cả các cơ sở đều hết sức chú trọng công tác đào tạo. Đào tạo và chuyển giao kỹ thuật – có thể là giữa các cơ sở trong nước, có thể là với các cơ sở nước ngoài (Nhật, Mỹ, Úc, Hàn Quốc, Thái Lan … ) và từ đó đã tạo nên những hợp tác quốc tế rất thú vị và hiệu quả.
 
- Trong những năm qua hoạt động nghiên cứu khoa học về tế bào gốc đang triển khai rất sôi nổi. Đã có vài chục bài báo cáo khoa học, 5-6 đề tài cấp Bộ và 03 đề tài cấp Nhà nước về tế bào gốc của Viện Huyết học-Truyền máu TW, bệnh viện  Trung ương Huế, Bệnh viện Trung ương quân đội 108, Bệnh viện Nhi Trung ương… Các nghiên cứu hoàn thành đã được báo cáo tại các hội nghị khoa học trong nước và quốc tế. Khá nhiều các luận văn, luận án về tế bào gốc đã được hoàn thành.
 
* Nhận xét chung về các hoạt động Tế bào gốc của chuyên khoa Huyết học - Truyền máu Việt Nam từ trước đến đầu năm 2013:
+Những kết quả và thành tựu:
 
- Đã tổ chức được một mạng lưới các cơ sở và có trang thiết bị khá tốt phục vụ cho tất cả những hoạt động tế bào gốc, chủ yếu là ứng dụng (thu gom, sản xuất, bảo quản và sử dụng để ghép tự thân hoặc đồng loại).
 
- Đã có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật nắm khá vững chuyên môn, kỹ thuật.
 
- Đã thực hiện thành công được hàng trăm ca ghép tự thân và đồng loại  để điều trị các bệnh lý huyết học; Đã hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật để có thể sử dụng tế bào gốc cho việc điều trị một số bệnh xương, khớp, tim mạch, bỏng, da liễu, … với kết quả rất tốt.
 
- Đã thực hiện được một số nghiên cứu khoa học có giá trị, góp phần đào tạo cán bộ (bác sỹ nội trú, cao học, nghiên cứu sinh); Bước đầu đã có những hợp tác quốc tế khá thành công.
 
+ Một số tồn tại và khiếm khuyết:
   Mặc dù chuyên khoa Huyết học - truyền máu đã phát triển các cơ sở, các kỹ thuật và ứng dụng ghép thành công nhiều ca bệnh ở nhiều cơ sở trong cả nước, đã phối hợp với các chuyên khoa khác trong ghép tế bào gốc tủy xương điều trị một số bệnh,  nhưng nhìn góc độ chung của chuyên khoa  cho thấy còn bộc lộ một số khiếm khuyết, như: 
    - Tự phát, manh mún, “trăm hoa đua nở”, phối hợp giữa các trung tâm chưa thực sự tốt; 
 
    - Hệ thống labo chưa mạnh, còn thiếu sự đầu tư ngang tầm;
    - Thiếu nguồn người hiến tế bào gốc;
    - Thiếu các thuốc đặc thù cho ghép;
    - Hệ thống văn bản pháp quy chưa phát triển kịp với yêu cầu.
    - Công tác nghiên cứu, đánh giá chưa đồng đều, chưa có những hướng dẫn thống nhất về quy trình kỹ thuật, về chỉ định chuyên môn cho các cơ sở 
 
II. Những định hướng về các hoạt động tế bào gốc của chuyên khoa Huyết học – Truyền máu trong cả nước trong thời gian tới.
1. Về công tác tổ chức hệ thống cho các hoạt động tế bào gốc:
 
  Các hoạt động tế bào gốc bao gồm các nhóm vấn đề sau: Xây dựng lực lượng và phát triển nguồn người hiến tế bào gốc; Tổ chức các labo tế bào gốc/labo ghép;  Xây dựng và củng cố những cơ sở thu gom, tinh sạch, bảo quản và phân phối tế bào gốc; Chuyển giao kỹ thuật cho các cơ sở sử dụng tế bào gốc để ghép điều trị các bệnh lý huyết học và ngoài chuyên khoa Huyết học…
 
1.1. Xây dựng lực lượng và phát triển nguồn người hiến tế bào gốc:
 Cần được xem đây là việc quan trọng hàng đầu, quyết định cho việc có thể đẩy mạnh được hoạt động ghép tế bào gốc – đặc biệt là ghép tế bào gốc đồng loại.
 Trước đây ghép tế bào gốc đồng loại thường lấy nguồn tế bào gốc từ máu cuống rốn hoặc từ người anh em ruột thịt. Do những bất lợi về lượng máu cuống rốn (có chứa tế bào gốc) không đủ hoặc do không có người anh em ruột thịt … nên xu hướng hiện nay là lấy tế bào gốc từ người cho không đồng huyết thống.
 
 Kinh nghiệm cho thấy phải chọn từ khoảng 30.000 người hiến thì mới có được 1-2 người phù hợp cả 06 gen để ghép. Mặt khác tế bào gốc nên lưu giữ ngay trong chính cơ thể người hiến và tổ chức thu thập khi có người nhận hòa hợp HLA thì tốt, mới và hiệu quả hơn.
 
 Bởi vậy, rất cần phải có một “Chương trình tế bào gốc quốc gia”, để có đủ nguồn lực cho việc xây dựng và phát triển nguồn người hiến tế bào gốc. Trong chương trình này cần tập trung làm tốt một số việc sau:
 
    -  Tuyên truyền vận động để có người đồng ý hiến tế bào gốc.
    -  Xét nghiệm HLA và một số chỉ số khác để sàng lọc người hiến.
    - Lưu trữ các thông tin đó, kết nối với các trung tâm trong nước và quốc tế để tìm người cho hòa hợp khi có nhu cầu.
      Đây sẽ phải là một chương trình lớn, cần có sự hợp tác của các tổ chức và  gồm nhiều trung tâm trong toàn quốc thực hiện.
 
1.2. Tổ chức và nâng cấp các labo tế bào gốc, labo ghép: 
    - Để có thể ghép thành công, rất cần thiết phải có các labo hiện đại, đồng bộ với những cán bộ giỏi có trình độ chuyên sâu cao. Nên tập trung hóa các labo này, ở mỗi vùng miền chỉ nên có 1-2 labo là đủ. Có như vậy mới đỡ tốn kém và mới hiệu quả.
 
   - Để có đủ số lượng và chủng loại tế bào gốc phục vụ nhu cầu ghép ngày càng cao, song song với việc phát triển nguồn người cho tế bào góc cần nghiên cứu và tiến tới ứng dụng các phương pháp nuôi cấy, nhân lên và bước đầu cho biệt hóa tế bào gốc để cung cấp cho các trung tâm ghép; vì vậy các labo có điều kiện cần tiếp cận và phát triển theo hướng này.
 
1.3 Xây dựng và củng cố những cơ sở thu nhận, tinh sạch, bảo quản và phân phối tế bào gốc cho các bệnh viện sử dụng điều trị cho bệnh nhân:
 
 Tế bào gốc luôn là một lĩnh vực tốn kém, đòi hỏi phải được đầu tư lớn để đảm bảo tính hiện đại và đồng bộ. Kinh phí xây dựng cơ sở chuẩn bị tế bào gốc cho ghép là  rất lớn, rồi ở đó phải có một đội ngũ cán bộ được đào tạo, được làm nhiều mới có kinh nghiệm…  Bởi vậy cũng nên có sự tập trung hóa, mỗi thành phố lớn chỉ nên có 1-2 cơ sở tổ chức làm việc này để cung cấp tế bào gốc cho các bệnh viện khác sử dụng ghép hoặc điều trị các bệnh lý cho bệnh nhân.
 
1.4. Triển khai và chuyển giao kỹ thuật ghép tế bào gốc cho các cơ sở để điều trị cho các bệnh nhân bị bệnh máu và các bệnh lý ngoài chuyên khoa huyết học:
 
Cần chú ý một số vấn đề sau:
- Ghép tế bào gốc đồng loại để điều trị các bệnh lý huyết học là một liệu pháp khó đòi hỏi tính đồng bộ cao và chuyên khoa sâu. Bởi vậy, chỉ nên thực hiện ở một số cơ sở chuyên khoa Huyết học – Truyền máu lớn có đầy đủ điều kiện, trang thiết bị, máy móc, thuốc men và đội ngũ cán bộ chuyên khoa. Cả nước chỉ cần một số cơ sở được trang thiết bị hiện đại, đồng bộ với đội ngũ cán bộ tinh nhuệ, có kinh nghiệm là đủ.
 
- Ghép tế bào gốc tự thân để điều trị bệnh máu thì có thể triển khai ở các cơ sở chuyên khoa Huyết học – Truyền máu trong cả nước.
 
- Riêng sử dụng tế bào gốc để điều trị các bệnh lý khác Huyết học, của các chuyên khoa như: Tim mạch, thần kinh, nội tiết, xương khớp, da … thì có thể triển khai ở nhiều bệnh viện đa khoa (thậm chí là ở tuyến tỉnh), nhưng tốt nhất vẫn là tại các bệnh viện chuyên khoa theo các nhóm bệnh lý đó.
 
 Tế bào gốc thì đã được các cơ sở chuyên môn chuẩn bị. Vậy, rất cần việc chuyển giao kỹ thuật của liệu pháp này (ghép, sử dụng…) đến các cơ sở điều trị trong cả nước.
 
2. Giải quyết thật tốt các vấn đề pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tế bào gốc.
 
 Như chúng ta đã biết, các hoạt động tế bào gốc ở Việt Nam là khá mới mẻ, bởi vậy nhiều vấn đề thuộc về pháp lý vẫn còn chưa hoàn thiện. Đó là những vấn đề như: Giấy phép hoạt động, quy trình chuyên môn kỹ thuật, bảo hiểm y tế, giá cả, mua bán chuyển nhượng tế bào gốc, quyền lợi, trách nhiệm của người hiến, người nhận tế bào gốc, và cả vấn đề thuốc, hóa chất sinh phẩm cho ghép nữa. Như vậy, một loạt các vấn đề về pháp lý đang đặt ra cần được đổi mới, cần được xây dựng.
 
3. Đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về tế bào gốc.
 
 Vì hoạt động tế bào gốc là rất mới và khó, đòi hỏi phải có những người làm có trình độ, có kiến thức, có tay nghề cao; đòi hỏi phải thường xuyên nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm và hệ thống hóa thành lý luận; đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở trong nước và với quốc tế. Vì vậy, chuyên khoa Huyết học – Truyền máu Việt Nam cần đẩy mạnh tất cả các hoạt động đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế mạnh mẽ và đồng bộ hơn nữa.
 
4. Tổ chức thật tốt hệ thống Công nghệ thông tin đủ lớn và cập nhật có khả năng lưu giữ một số lượng dữ liệu lớn đảm bảo cho các hoạt động chính xác, thuận lợi của từng trung tâm và có khả năng kết nối với các trung tâm trong nước và quốc tế.
 
5. Một số vấn đề khác:
 
 Có ý kiến đề xuất nên tổ chức Hội Tế bào gốc Việt Nam để các hoạt động tế bào gốc được quy củ, bài bản và thống nhất hơn; Và nên duy trì các hội nghị về Tế bào gốc một cách thường xuyên để các đồng nghiệp trong cả nước có điều kiện học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với nhau nhiều hơn nữa.
 
Kết luận: Chuyên khoa HH-TM VN đã sớm bắt tay vào nghiên cứu và áp dụng tế bào gốc để điều trị  các bệnh lý thuộc và không thuộc chuyên khoa huyết học. Trải qua gần 2 thập kỷ chúng ta đã gặt hái được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên cũng xuất hiện một số vấn đề cần giải quyết.
 
   Để công tác nghiên cứu và ứng dụng ghép tế bào gốc đạt được những kết quả tốt hơn nữa, ngang tầm quốc tế thì chúng ta rất cần thiết phải thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa tất cả nhiều công việc như đề cập ở trên.
 
Ban biên tập
 
 

 

 

Đánh giá

Đánh giá: 0 (0 bình chọn)