I. Cơ sở xây dựng chương trình
1. Tình hình truyền máu trên thế giới và khu vực
Hầu
hết các nước có hệ thống tổ chức truyền máu thống nhất từ cấp quốc gia
đến các vùng, có các quy định cụ thể về chính sách cho và nhận máu, về
tiêu chuẩn chất lượng máu và thành phần.
Có
các trung tâm truyền máu tập trung, cung cấp máu cho một vùng rộng lớn
nên có thể sử dụng kỹ thuật, phương tiện hiện đại, xét nghiệm và tách
chiết hàng loạt. Hệ thống sàng lọc bệnh nhiễm trùng có độ nhạy, độ đặc
hiệu cao. Nhiều nước dùng phương pháp phân tử sàng lọc virus và dùng
màng lọc bạch cầu cho tất cả các đơn vị máu.
Nguồn
máu chủ yếu từ người cho tình nguyện không lấy tiền được quản lý tốt.
Lượng máu cung cấp đủ cho nhu cầu điều trị và dự phòng. Chủ yếu sử dụng
thành phần máu, có áp dụng các kỹ thuật miễn dịch hệ ABO và ngoài hệ
ABO, có hệ thống kiểm tra và giám sát chất lượng.
Hệ thống truyền máu lâm sàng được tổ chức tốt, có kế hoạch và thực hiện các quy định về an toàn truyền máu.
2. Thực trạng công tác truyền máu ở Việt Nam
Cơ
sở lấy máu phân tán, mang tính tự cung tự cấp nên không thể đầu tư
trang bị kỹ thuật hiện đại. Ngay tại mõi tỉnh cũng có nhiều bệnh viện
cùng lấy máu, nhưng nhiều nhất vẫn là khoa truyền máu bệnh viện đa khoa
tỉnh hoặc bệnh viện trung ương trên địa bàn tỉnh.
Nguồn
máu chủ yếu từ người cho chuyên nghiệp, đó là những người bán máu nên
họ giấu bệnh tật để bán máu đồng thời ở nhiều nơi. Điều đó vừa nguy
hiểm vừa khó quản lý. Lượng máu thiếu trầm trọng, trong khi nhu cầu máu
ngày càng tăng. Phong trào Vận động Hiến máu Nhân đạo bắt đầu phát huy
hiệu quả, tuy nhiên mới tập trung ở những trung tâm lớn.
Tỷ lệ bệnh nhiễm trùng lây qua đường truyền máu rất cao, nhất là viêm
gan B (theo các thống kê có khoảng từ 10-15% người lành mang virus viêm
gan B). Số người nhiễm HIV lây bằng đường tiêm chích, mại dâm, mẹ sang
con trong thời trẻ sinh và bú sữa ngày càng tăng trong cộng đồng, làm
cho nguồn người cho máu không an toàn tăng lên hàng ngày. Công tác sàng
lọc máu tuy đã được triển khai và thực hiện, nhưng chất lượng không
được bảo đảm phương pháp và kỹ thuật, chưa được thống nhất, nhất là
tuyến cơ sở tỉnh và huyện.
Hoà hợp nhóm máu chủ yếu chỉ thực hiện với hệ ABO còn các hệ kháng
nguyên khác chưa làm được do chưa có kinh phí đã có tai biến do bất
đồng hệ Rh và một số hệ khác.
Trang bị cho truyền máu còn thiếu và thô sơ, nhiều trang thiết bị có từ hơn 20 năm về trước, phần lớn thao tác bằng tay.
Truyền máu lâm sàng chủ yếu vẫn dùng máu toàn phần (90%), nhiều nơi còn chưa tuân thủ các quy tắc an toàn truyền máu.
Cán bộ truyền máu còn thiếu nhiều về số lượng, chưa đồng đều về chất lượng, năng lực quản lý an toàn truyền máu còn thấp.
Điều lệnh truyền máu (qui tắc cơ bản cho quản lý) xây dựng 1992, nay đã
có nhiều thay đổi, cần được sửa chữa và bổ sung cho phù hợp với các
hoạt động an toàn truyền máu trong giai đoạn mới (2001-2010) thực hiện
điều lệnh truyền máu ở tuyến cơ sở chưa chặt chẽ. Đây là khe hở lớn của
an toàn truyền máu bệnh viện.
3. Các kết quả đạt được của ngành truyền máu
Tổ chức được hệ thống sàng lọc HIV và các bệnh nhiễm trùng khác như
ABV, IHV, giang mai, sốt rét trong toàn quốc. Đảm bảo 100% đơn vị máu
được sàng lọc.
Khởi động và phát triển phong trào hiến máu tình nguyện đến năm 1999.
Lượng máu toàn quốc gấp 2 lần so với năm 1993. Tỷ lệ máu từ người cho
tình nguyện tăng cao.
Đào tạo được đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên chuyên khoa. Ba trung tâm
lớn là Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh đã kết hợp với các trường đại
học, hàng năm đào tạo được nhiều bác sĩ chuyên khoa và bổ túc kỹ thuật
chuyên khoa cho nhiều kỹ thuật viên.
Đã đổi mới được trang thiết bị trong thu gom và bảo quản máu: hiện nay
các cơ sở truyền máu sử dụng túi chất dẻo lấy máu thay thế chai thuỷ
tinh trước đây. Điều này giúp đảm bảo chất lượng chất chống đông và bảo
quản máu, giúp dễ dàng vận chuyển và điều chế các thành phẩm máu.
Tổ chức và hoạt động của hệ thống truyền máu toàn quốc đã phát huy hiệu
quả. Viện Huyết học Truyền máu và 2 trung tâm truyền máu lớn là Huế
& TP. Hồ Chí Minh đã chỉ đạo công tác an toàn truyền máu cả nước.
Hợp tác quốc tế đã phát triển mạnh trong lĩnh vực an toàn truyền máu.
4. Nhu cầu cung cấp máu:
Nhu cầu cung cấp máu ngày càng tăng nhanh do:
Nhu cầu chữa bệnh của nhân dân cao và tăng lên theo sự phát triển của
kinh tế, văn hoá. Nhiều bệnh trước đây coi là bó tay thì nay được cứu
chữa. Người dân đến bệnh viện nhiều hơn.
Nhiều ứng dụng mới trong điều trị được triển khai nhất là các trung tâm
lớn: ghép cơ quan, phẫu thuật lớn, mở tim hở... cần rất nhiều máu.
Tai nạn do giao thông, do công nghiệp: Đi đôi với phương tiện giao
thông, mật độ và lưu lượng giao thông là tai nạn tăng, do đó nhu cầu
máu tăng.
Máu dự trữ cho thảm hoạ: nhiều thảm hoạ bất chợt trong chiến tranh và thời bình cần có máu và chế phẩm máu dự trữ.
5. Các căn cứ khác:
Chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng cường bảo vệ sức khoẻ nhân dân,
về đảm bảo an toàn truyền máu. Nghị quyết Đại hội Đảng CSVN đã nêu tầm
quan trọng của công tác an toàn thực phẩm và an toàn truyền máu. Ngành
y tế và chuyên khoa Huyết học Truyền máu có nhiệm vụ xây dựng và thực
hiện.
Cơ sở hạ tầng các bệnh viện đã được cải tạo.
Nền kinh tế chung của đất nước phát triển tạo điều kiện giao lưu và cung cấp trang thiết bị dễ dàng.
II. Mục tiêu của chương trình
1. Mục tiêu chung:
Từng
bước cung cấp máu và các sản phẩm máu có chất lượng và an toàn cho nhu
cầu cấp cứu, điều trị, dự phòng các thảm hoạ, có máu dự trữ cho an ninh
quốc phòng, sử dụng máu, chế phẩm hợp lý, hiệu quả góp phần giảm tỷ
lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh, tăng cường hợp tác và đầu tư quốc tế.
2. Mục tiêu cụ thể :
Phấn
đấu đáp ứng nhu cầu về máu và các sản phẩm máu cho điều trị, có đủ máu
dự trữ cho an ninh, quốc phòng và thảm hoạ, cho mở rộng quan hệ quốc
tế, với các chỉ tiêu: toàn quốc thu 200.000 lít máu/năm (50% nhu cầu,
năm 2005) và 400.000 lít máu/năm (>90% nhu cầu, năm 2010).
Thay
đổi cơ bản cơ cấu nguồn người cho máu. Người cho máu tình nguyện không
lấy tiền đạt 50% (2005) và >70% (2010). Loại trừ lấy máu ở nhóm
người nguy cơ cao, khuyến khích cho máu nhắc lại, nâng cao sức khoẻ
người cho máu.
Bảo
đảm trên phạm vi toàn quốc 100% đơn vị máu trước khi truyền được sàng
lọc 5 bệnh nhiễm trùng: HIV, HBV, HCV, giang mai, sốt rét. Bảo đảm định
nhóm máu ABO, Rh, tìm kháng thể bất thường trước truyền máu ở 100% các
bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh.
Sản xuất được các sản phẩm máu, tiến hành truyền máu từng phần đạt 70%
(2005), 90% (2010) tổng số máu thu được. Chuẩn hoá các sản phẩm máu đạt
tiêu chuẩn quốc tế ở 3 trung tâm lớn : Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh
(2005) và 3 trung tâm mới: Cần Thơ, Đắc Lắc, Hải Phòng (2010).
Tất cả các bệnh viện trung ương, bệnh viện cấp tỉnh đều có Ban An toàn
truyền máu bệnh viện. Ban này làm nhiệm vụ lập kế hoạch về nhu cầu máu
hàng năm, hướng dẫn sử dụng hợp lý máu và các sản phẩm máu, kiểm tra
các quy chế an toàn truyền máu bệnh viện.
Có một Ngân hàng máu chuẩn tại Viện Huyết học Truyền máu (HH-TM) Hà
Nội bảo đảm cung cấp đủ máu và máu an toàn, chất lượng cao cho nhu cầu
điều trị của Thủ đô và là mô hình triển khai xuống các trung tâm vùng
và tỉnh
III. Các giải pháp thực hiện mục tiêu
3.1.Tổ chức và xây dựng hợp lý hệ thống truyền máu trong toàn quốc với 3
tuyến :Trung ương, Tỉnh và Huyện trên 3 lĩnh vực: vận động hiến máu,
ngân hàng máu và sử dụng máu. Ưu tiên xây dựng ngân hàng máu tỉnh/
thành phố để có đủ khả năng cung cấp máu cho các bệnh viện trong tỉnh.
3.2.Xã hội hoá công tác vận động hiếnmáu tự nguyện theo Quyết định số
43/2000/QĐ-TTg ngày 07/04/2000 của Thủ tướng Chính phủ để tăng nguồn
người cho máu an toàn.
3.3.Đổi mới trang bị, kỹ thuật nhằm nâng cao số lượng và chất lượng sàng
lọc các bệnh nhiễm trùng ở các đơn vị máu, chất lượng các sản phẩm máu,
bảo quản và phân phối máu an toàn.
3.4.Từng bước tập trung ngân hàng máu đạt tiêu chuẩn để sử dụng các trang
thiết bị kỹ thuật hiện đại, nâng cao chất lượng ngân hàng máu theo
hướng: từng bước hạn chế thu gom máu ở tuyến huyện, tập trung xây dựng
tuyến tỉnh và khu vực, bảo đảm cung cấp máu và các chế phẩm máu có chất
lượng cho các bệnh viện trong tỉnh và khu vực.
3.5.Đào tạo cán bộ, kỹ thuật viên có trình độ và tay nghề bảo đảm sử dụng
được các trang bị và kỹ thuật hiện đại, chuẩn hoá các kỹ thuật, trang
bị, các sản phẩm máu, các sinh phẩm sử dụng cho Ngân hàng máu.
3.6.Nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý hệ thống truyền máu toàn quốc:
a.Sửa đổi, bổ sung Điều lệ truyền máu (ban hành năm 1992) cho phù hợp với
tình hình truyền máu trong nước và thông lệ quốc tế giai đoạn 2001-2010.
b.Phân cấp quản lý ngân hàng máu theo ba tuyến: TW ® tỉnh, tỉnh ® huyện.
c.Nâng cấp 2 trung tâm HH-TM Huế và TP. Hồ Chí Minh thành 2 phân viện khu vực để tăng cường chỉ đạo tuyến dưới.
d.Hình thành hệ thống kiểm tra chất lượng an toàn truyền máu từ Trung
ương xuống tuyến huyện: bao gồm xây dựng nội dung kiểm tra, tổ chức và
hình thức kiểm tra.
3.7.Tăng
cường hoạt động lồng ghép và phối hợp với các chương trình, các tổ chức
quần chúng. Hợp tác giữa trung ương và địa phương, phát huy trách nhiệm
đóng góp và xây dựng của địa phương vào chương trình.
3.8.Tăng
cường hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng
đồng quốc tế.
IV. Nội dung và biện pháp thực hiện chương trình
1. Tổ chức và xây dựng hợp lý hệ thống truyền máu trong toàn quốc
Tổ
chức mạng lưới để quản lý chuyên môn, để hoạt động có chất lượng, đồng
thời đảm bảo cung cấp đủ máu, chế phẩm an toàn cho điều trị.
Thay đổi hình thức cung cấp máu lẻ tẻ hiện nay thành cung cấp máu tập trung.
Tập
trung hệ thống cung cấp máu theo từng mức độ, từng giai đoạn. Ban đầu
là tập trung tuyến tỉnh dần dần đến xây dựng Trung tâm TM khu vực.
Xây dựng & thực hiện hoạt động của hệ thống đảm bảo chất lượng kiểm tra chất lượng.
2. Đẩy mạnh công tác vận động hiến máu tình nguyện
Phối hợp các cơ quan tổ chức vận động, có sự chỉ đạo của Đảng và Chính quyền.
Có các chính sách chế độ đối với người cho máu.
Thành lập ban vận động hiến máu ở Trung ương & các cấp
Biên soạn tài liệu: Các loại tài liệu từ sách đến tờ rơi, tranh cổ động...
Tổ chức vận động, tuyên truyền bằng nhiều hình thức
3. Xây dựng các trung tâm truyền máu
Củng
cố và nâng cấp trung tâm truyền máu tại bệnh viện đa khoa các tỉnh (đối
với tỉnh lớn có thể có các trung tâm truyền máu khác).
Trang bị phương tiện & nhânlực cho các hoạt động từ thu gom, sàng
lọc, điều chế thành phần máu, lưu trữ, cung cấp máu và kiểm tra chất
lượng.
Đào tạo cán bộ quản lý tổ chức ngân hàng máu, cán bộ thực hiện các hoạt động chuyên môn.
Xây dựng trung tâm truyền máu khu vực.
Dần dần tiến tới xây dựng Trung tâm truyền máu khu vực để cung cấp máu cho nhiều tỉnh. Với qui mô của ngân hàng máu lớn.
Những huyện đảo xa, tỉnh xa trung tâm sẽ có ngân hàng máu (TTTM nhỏ).
4. Nâng cao chất lượng sử dụng máu tại các bệnh viện.
* Thực hiện tại tất cả các bệnh viện có sử dụng máu gồm 2 hoạt động chính là cấp phát máu và sử dụng máu lâm sàng.
Nâng cao chất lượng cấp phát máu (labo phát máu)
Lưu trữ máu, thành phần máu (tuỳ qui mô của bệnh viện).
Phương tiện, dụng cụ để phát máu an toàn
Đào tạo cán bộ chuyên khoa
Đảm bảo sử dụng máu, thành phần hợp lý, an toàn
Phổ biến kiến thức về truyền máu lâm sàng
Trang bị cho các khoa lâm sàng dùng máu nhiều các phương tiện bảo quản sinh phẩm...
Thiết lập hệ thống, hình thức báo cáo, thông báo về an toàn TM.
Thành lập & đẩy mạnh hoạt động Ban an toàn truyền máu bệnh viện.
5. Nguồn kinh phí:
Kết hợp đầu tư trong nước và quốc tế
V. Kế hoạch thực hiện chương trình
Chương trình được chia làm 3 giai đoạn:
1. Giai đoạn 1 (2001-2003):
Mục tiêu:
-
Hình thành mạng lưới Ngân hàng máu tuyến tỉnh, từng bước cung cấp đủ máu cho các bệnh viện tuyến huyện.
-
Phấn đấu cung cấp 40% (khoảng 150.000 lít/năm), đạt 50% người cho máu tình nguyện.
-
Phấn đấu sàng lọc 100% HIV, HBV, HCV, giang mai và sốt rét ở túi máu trước truyền bằng các kỹ thuật có độ nhạy, độ đặc hiệu cao.
-
Sử dụng máu và chế phẩm máu hợp lý, an toàn và hiệu quả trên lâm sàng.
Hoạt động:
Tổ chức và xây dựng hợp lý hệ thống truyền máu trog toàn quốc bao gồm 3
lĩnh vực: (1) Vận động hiến máu, (2) Ngân hàng máu và (3) sử dụng máu ở
lâm sàng (sơ đồ 1) đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế bao gồm: đánh giá
hiện trạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống truyền máu,
xây dựng các tiêu chuẩn về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và
tài chính ở 3 tuyến: trung ương, tỉnh, huyện. Lập kế hoạch đầu tư xây
dựng (sơ đồ 2).
Đẩy mạnh cuộc vận động hiếnmáu tình nguyện trên phạm vi toàn quốc.
Nhanh chóng tổ chức và triển khai quyết định số 43/2000/QĐ-TTg ngày 7
tháng 4 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc vận động và khuyến
khích nhân dân tham gia hiến máu tình nguyện để tăng nguồn người cho
máu an toàn, đạt chỉ tiêu 100% tỉnh có Ban chỉ đạo vận động hiến máu và
hơn 50% lượng máu lấy từ người cho máu tình nguyện.
Xây
dựng Ngân hàng máu tuyến tỉnh, bảo đảm có đủ máu chất lượng tốt cung
cấp cho các bệnh viện huyện trong tỉnh. Tiến tới tuyến huyện (trừ các
huyện đảo xa) sẽ ngừng hẳn thu gom và sàng lọc máu, chỉ lưu trữ và sử
dụng máu do tỉnh cung cấp.
Hoàn thiện trang bị sản xuất và chuẩn hoá các sản phẩm máu tại 3 trung tâm lớn: Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh.
Xây dựng hệ thống an toàn truyền máu bệnh viện đảm bảo sử dụng máu và
sản phẩm máu hợp lý, an toàn, tiết kiệm. Có ban chỉ đạo, lập kế hoạch
nhu cầu máu, hướng dẫn sử dụng máu hợp lý và an toàn tại bệnh viện.
Đào
tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ và kỹ thuật viên làm truyền máu cho
toàn ngành theo yêu cầu của 3 tuyến: trung ương, tỉnh, huyện.
2. Giai đoạn 2 (2004-2006):
Mục tiêu:
-
Củng cố và hoàn thiện hệ thống truyền máu quốc gia bao gồm cả 3 hệ
thống: VĐHM, ngân hàng máu, an toàn truyền máu lâm sàng ở 3 tuyến:
trung ương, tỉnh, huyện.
-
Phát triển các kỹ thuật hiện đại về truyền máu và an toàn truyền máu,
chuẩn hoá trang thiết bị, kỹ thuật, các sản phẩm máu đạt tiêu chuẩn
quốc tế.
-
Phấn
đấu đạt mốtố chỉ tiêu: cung cấp 70% nhu cầu máu cho cấp cứu, điều trị,
dự phòng thảm hoạ và sản xuất chế phẩm máu. Đạt 60% người cho máu tình
nguyện, 50% truyền máu từng phần.
Hoạt động:
Củng cố và hoàn thiện ngân hàng máu tuyến tỉnh, hoạt động đồng bộ trên cả 3 nhiệm vụ:
Vận động hiến máu: đạt 60% người cho máu tình nguyện trên qui mô toàn quốc
Phát triển ngân hàng máu, bảo đảm lượng máu an toàn cung cấp cho các bệnh viện, đạt chỉ tiêu 12 đơn vị máu/ giường bệnh/ năm.
Hình thành hệ thống sử dụng máu an toàn ở 60% tổng số các bệnh viện, truyền máu từng phần đạt 50%.
Nâng cấp hệ thống bảo quản và sử dụng máu an toàn ở tuyến huyện, bao gồm các nội dung:
Có đủ trang bị cho việc vận chuyển và lưu trữ máu an toàn.
Có hệ thống phòng xét nghiệm phát máu an toàn.
Có
hệ thống giám sát sử dụng máu, truyền máu an toàn, lập kế hoạch về nhu
cầu máu tại bệnh viện huyện và các cơ sở y tế tương đương.
Xây dựng thêm 3 trung tâm vùng: đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ), Tây nguyên (Dac Lac), đồng bằng sông Hồng (Hải Phòng).
Tiếp tục củng cố, duy trì hoạt động của 3 TT lớn: Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh.
Xây dựng mạng lưới đảm bảo chất lượng gồm: (1) thực hiện các khâu bảo
đảm chất lượng, (2) kiểm tra chất lượng dịch vụ máu quốc gia: kiểm tra
chất lượng trang thiết bị, sinh phẩm chẩn đoán, chất lượng các sản phẩm
máu, hiệu quả sử dụng máu ở lâm sàng, chất lượng cán bộ, kỹ thuật viên,
tay nghề.
3. Giai đoạn 3 (2007-2010):
Mục tiêu:
-
Duy trì chất lượng và số lượng cung cấp máu an toàn trên 3 lĩnh vực:
vận động hiến máukhông lấy tiền, ngân hàng máu, sử dụng máu hợp lý tại
bệnh viện ở cả 3 tuyến: trung ương, tỉnh, huyện.
-
Tiếp tục đổi mới trang bị kỹ thuật, hiện đại hoá dịch vụ máu.
-
Tổng kết, đánh giá hiệu quả chương trình.
Hoạt động:
Rà soát lại các hoạt động dịch vụ máu ở 3 tuyến: trung ương, tỉnh,
huyện trên 3 mặt: vận động hiến máu, ngân hàng máu và sử dụng máu tại
bệnh viện. Có kế hoạch bổ sung, hoàn thiện theo các chỉ tiêu đặt ra.
Tiếp tục ứng dụng các kỹ thuật mới và hiện đại trên các lĩnh vực: sàng
lọc bệnh nhiễm trùng, sản xuất, chuẩn hoá và lưu trữ các sản phẩm máu.
Phấn đấu đạt các chỉ tiêu: số lượng máu 400.000 lít/năm,trên 80% người
cho máu tình nguyện, trên 70% truyền máu từng phần, 100% đơn vị máu
được sàng lọc đủ 5 bệnh nhiễm trùng bằng kỹ thuật có độ nhạy, độ đặc
hiệu cao trên quy mô toàn quốc. Đạt được các chỉ tiêu này, chúng ta sẽ
có đủ máu và máu an toàn sử dụng hàng ngày cho điều trị, có máu dự trữ
cho an ninh, quốc phòng và các thảm hoạ. Nhiều bệnh nhân và nạn nhân sẽ
được cứu sống, không bị chết oan vì không có máu truyền.
Hoàn thiện hệ thống kiểm tra chất lượng toàn ngành.
Kiểm tra, đánh giá, tổng kết chương trình.
VI. Dự án trung tâm truyền máu khu vực vay vốn WB
Trong
khuôn khổ CT ATTM, ngân hàng thế giới đã đồng ý cho vay tiền xây dựng 4
trung tâm truyền máu khu vực tại 4 địa điểm : Hà Nội, Huế, Chợ Rẫy, Cần
Thơ.
Khi hoàn thành, 4 trung tâm này sẽ cung cấp máu cho 20 tỉnh và thành phố.
VII. Dự án ATTM giai đoạn 1
Năm 2003 được cấp cho cả nước 2,5 tỉ để cho các hoạt động
Trang bị dàn Elisa cho 5/11 tỉnh còn thiếu.
Đào tạo cán bộ
Đẩy mạnh vận động hiến máu
|