10 - 09 - 2010
Home
Introduction
Unions
News
Hematology pathology
Tests
Conference - Seminar
Science study
Trainning - Branch direct
Blood bank
Hemophilia Center
Programs - Projects
Forum
Film - Documents
Foreign
Collaborate
Write according to subject
motgiotmaumottamlong
motgiotmaumottamlong1
Online Now: 6
Total access: 47,458
Chiến tranh đã tàn ta đi tìm nhau...
Thế hệ chúng tôi không sinh ra trong chiến tranh, không biết nhiều về mưa bom, đạn lửa, cũng không phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát như thế hệ cha anh. Chúng tôi chỉ biết đến chiến tranh qua lời giảng của thầy, qua những trang sách chứa đựng những dấu mốc ngày tháng

những sự kiện lịch sử chưa đủ giúp chúng tôi cảm nhận hết sự khốc liệt của cuộc chiến.
Nhưng chẳng biết từ bao giờ tôi đã yêu những ca từ giản dị mà da diết, sâu lắng của bài hát “Ký Ức Chiến Tranh” đến vậy?

“Chiến tranh đã tàn ta đi tìm nhau

 Hằn lên nỗi đau trong mỗi cuộc đời

 Hàng dừa bồng con, dòng kênh trìu mến

 Mà người yêu thương thấy đâu?...”

Tôi cứ nghe đi, nghe lại đến thuộc lòng bài hát, từng lời ca chẳng biết từ lúc nào đã trở thành nỗi day dứt, ám ảnh trong tôi: hình như từ lâu rồi mình đã rất đỗi vô tâm? Mình chẳng biết gì nhiều về những tâm tư, suy nghĩ của một thế hệ cha anh đã sống và chiến đấu vì Tổ Quốc, chẳng biết sẻ chia với bao nỗi đau còn vương lại. Chỉ đến khi đọc xong ba cuốn sách: “Nhật ký mãi mãi tuổi hai mươi”, “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm”  và hồi ký “Ký ức chiến tranh”, những ám ảnh trong tôi mới vơi đi phần nào.

Tôi đã thức nhiều đêm đọc hết cuốn nhật ký, hồi ký của anh Thạc, anh Sơn và chị Trâm. Từng dòng chữ dung dị, chân thực dần đưa tôi trở về với những tháng ngày khói lửa ấy, giúp tôi  hình dung rõ nét hơn về những gì mà thế hệ các anh đã đi qua.

Là những băn khoăn, trăn trở lúc ban đầu: ở lại học tiếp, ở lại làm việc ở thủ đô hay ra chiến trường? Đó là những câu hỏi chắc chắn ngày ấy bất kỳ ai cũng đã từng đặt ra, tương tự như câu hỏi ngày nay thường trực trong mỗi chúng tôi: làm việc ở chỗ này hay chỗ kia thì tốt hơn? Nhưng ngày ấy câu trả lời mới  khốc liệt làm sao: chiến trường có thể đồng nghĩa với cái chết. Chết thì ai cũng sợ phải không? Vậy mà các anh, các chị vẫn ra đi, theo tiếng gọi của Tổ Quốc hay chỉ giản dị, tự nhiên: “Nhiều lúc mình cũng không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá và cũng đột ngột qúa”

Câu chuyện về con đường "Nam tiến” của anh tân binh Nguyễn Văn Thạc đã đưa tôi đi dọc theo chiều dài đất nước. Bắt đầu từ những ngày đầu huấn luyện ở Hà Bắc cho đến Ngã Ba Đồng Lộc, nơi trước khi anh vào chiến trường rồi ngã xuống ở tuổi 20 bên Thành Cổ Quảng Trị. Đọc cuốn nhật ký của Thạc, nhiều khi tôi ngỡ mình đang đi lạc vào một khung trời đầy chất thơ, nhạc, hoạ nhưng vẫn không mất đi tinh thần hào sảng của một người trai yêu nước.

Anh trải lòng mình chân thật qua những cảm nhận sâu lắng, hồn nhiên, những rung động tinh tế trước những vùng đất anh qua, những con người anh gặp. Làm sao không thấy đất nước mình tươi đẹp khi đọc những dòng chữ này của anh: " Đồng đã đi qua mùa gặt. Hương lúa chia đều khắp các nhà và trăng lên sớm cho sân kho nhộn nhịp. Rơm còn phơi đầy trên ruộng, rơm gác lên đống rạ, mềm đi vì sương sớm. Dạo mới đến đây, rừng thả hạt dẻ lách tách trên đồi. Còn bây giờ lại mùa hoa dẻ. Hoa dẻ rừng trắng pha vàng như hoa nhã, như hoa hồng bì. Cả rừng như mở ra cho vô vàn mùi hương lạ lùng thì thào cùng anh bộ đội...…”.

Qua những dòng chữ đẹp đến nao lòng của anh ghi vội trên đường hành quân, tôi đã cảm nhận được tình yêu Tổ Quốc trong anh. Không cần là những lời sáo rỗng, những tuyên bố hùng hồn, mà chỉ qua những cảm nhận tinh tế của anh về đất nước, về con người nơi anh đã đi qua cũng đủ thể hiện rõ điều đó. Xuyên suốt cuốn nhật ký của mình, anh còn bày tỏ tinh thần lạc quan, lý tưởng sống cao đẹp 1 cách giản dị: ” Ta biết giấu mặt vào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có dấu chân ta? Khi cả cuộc đời chưa có niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng, cắm cờ Tổ Quốc trên cả nước thân yêu”.

Thạc có thể chọn con đường khác vào đời vì anh vốn học rất giỏi tự nhiên và xã hội, ở trung học đã đoạt giải nhất cuộc thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc, ở đại học là sinh viên xuất sắc của khoa toán - cơ Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhưng anh đã chọn 1 con đường đầy chông gai, thăm thẳm và không biết có ngày về, nhưng đó là con đường cho Tổ  Quốc hồi sinh. Anh ra chiến trường nhưng trong những trang nhật ký của anh không hề thấy sự sợ hãi, yếu ớt hay băn khoăn nhiều về cái chết. Điều day dứt, trăn trở nhất của anh là tình yêu lớn anh dành cho người con gái Hà Nội.

Một mối tình đẹp và đầy lãng mạn được anh khao khát tỏ bày: ” Nghĩ về Hà Nội là nghĩ về Như Anh, nghĩ đến những ngày bên nhau đi trong đêm mùa hè, của đêm mùa thu. Ta gặp nhau làm gì? Ta nắm tay nhau làm gì nhỉ? Ta siết chặt trong nỗi xúc động làm gì? Như Anh bé nhỏ yêu dấu đêm nay ở đâu? Thương Như Anh thật nhiều mà không biết nói sao, không biết làm sao cả”. Thương đấy, yêu nhiều lắm đấy nhưng có khi tâm hồn cao thượng của anh lại rung lên vì lo lắng cho sự chờ đợi mòn mỏi của người con gái anh yêu: ” Phải, giờ đây tôi ân hận rất nhiều. Tôi tự trách mình sao đã tìm đến Như Anh.

Phải, bao nhiêu lần tôi nhủ Như Anh đừng chờ tôi làm gì. Nhưng chính lúc tôi nói điều ấy trong thư, thì tâm hồn và trái tim tôi bàng bạc một dòng tha thiết: chờ Thạc, Như Anh nhé! Chờ Thạc, như cô gái Việt Nam chung thuỷ trọn đời với người yêu đi chiến đấu”. Khi viết những dòng này phải chăng anh lo rằng rủi như mai này anh ngã xuống, sẽ có người con gái phải luôn đau khổ, day dứt vì anh? Nhưng Thạc ơi! Chiến tranh là thế: chia ly, khổ đau và mất mát, hy sinh nhưng vượt trên tất cả là tình yêu lớn anh đã để lại cho đời. Chính chúng tôi,  khi soi mình trong những áng văn tuyệt đẹp anh viết về tình yêu của mình, đôi lúc đã cảm thấy hổ thẹn. Yêu là phải biết sống cho nhau!

Một lẽ sống giản dị mà tôi đã học được từ  anh đó. Tâm hồn, nhân cách và trí tuệ của anh xứng đáng để có nhiều người thương mến! Câu trả lời cho câu hỏi hạnh phúc là gì của người con gái anh yêu đã có lời giải đáp: đất nước đã thống nhất đúng vào ngày 30-4-1975, ngày anh đã tiên liệu trước đó 3 năm, ngày anh đi mãi không về. Tại sao anh có câu trả lời kỳ lạ đó?. Phải chăng chính tình yêu đất nước và con người đã khiến anh trở thành bất tử!

“ Cái quý nhất của con người là cuộc sống, đời người chỉ sống có  một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí...”. Đây là những dòng chữ bắt đầu trên cuốn nhật ký của nữ bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm, người Hà Nội, cũng chính là phương châm sống của cả một thế hệ những năm đầu chống Mỹ. Cảm nhận đầu tiên của tôi sau khi đọc xong những dòng chữ của chị không gì ngoài hai từ: vĩ đại. Hẳn các bạn sẽ băn khoăn: Tại sao chị Trâm thuộc lớp người đi trước anh Thạc, nhưng tôi lại dành những dòng cho chị  sau anh? Xin các bạn hãy nhìn lại hành trình của chị từ ngày xa Hà Nội.

Chị ra đi từ năm 1966, nhưng cuốn nhật ký mà chúng ta đang có lại viết từ năm 1968, nghĩa là có 2 năm mà bao suy nghĩ, tâm tư của chị chúng ta không được biết. Thực ra trong cuốn nhật ký sau này chị cũng nhắc đến chi tiết bị mất 2 cuốn nhật ký đầu tiên. Trong đó hẳn chị đã phải trải qua đoạn đời anh Thạc đã đi qua với bao vất vả nhưng cũng tràn đầy nhiệt huyết thanh xuân.

Bắt đầu từ Hà Nội, từ giảng đường, từ bệnh viện chị ra thẳng chiến trường, không hề run sợ. Một người con gái Hà Nội mảnh dẻ, nhỏ nhắn vượt hàng ngàn cây số vào Đức Phổ -Quảng Ngãi để bắt đầu lý tưởng sống của đời mình dưới những làn bom đạn.

Công việc chăm sóc thương bệnh binh đầy vất vả nhưng không lúc nào thấy chị phàn nàn, dù đôi chút. Bao trùm lên cuốn nhật ký của chị là lòng trắc ẩn, tình yêu thương của chị với những người xung quanh: những người thương binh được chị cứu chữa, những người bạn chiến đấu bên cạnh. Và xuyên suốt  là tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy với lý tưởng sống cao đẹp của chị:

“ Ai biết chăng dù ta có chết

Cho ngày mai, cho đất nước tự do

Thì trong ta vẫn trọn niềm mơ

Và trọn vẹn cả tình thương chung thuỷ”

Hình ảnh của chị thấp thoáng trong từng trang viết:  hối hả thực hiện những ca mổ trong điều kiện thiếu thốn của chiến trường, tất tả ngược xuôi đưa thương binh về lán trại hay dịch chuyển để lánh một trận càn của giặc, hay có khi ngồi lặng đớn đau khi nghe tin đồng đội hy sinh. Chị là một người lính, nhưng còn là một thầy thuốc nên có cả những dòng chữ tủi cực trước những trường hợp bó tay không cứu chữa được bệnh nhân: “ Biết nói gì với anh đây, mình đứng im hổ thẹn và tủi cực vô cùng.

Đành rằng dù ở đâu rồi cũng đành bó tay trước bệnh của anh nhưng còn có điều kiện để kéo dài thêm chút ít cuộc sống của anh. Còn ở đây mình như tên lính bại trận giơ hai tay để cho kẻ thù tước bỏ vũ khí”. Nhưng khi thực hiện được một ca bệnh khó chị lại bày tỏ khao khát:” Một dòng máu đã ngừng chảy nhưng bao dòng máu khác đã chảy và đang chảy? Phải hàn gắn được vết thương trên mình Tổ Quốc chúng ta kia” Ôi! người con gái Hà Nội kiên cường mà trung dũng, trước chị chúng tôi thấy mình sao nhỏ bé ? Những bực bội, cáu gắt với bệnh nhân của chúng tôi trong đôi lần mệt mỏi chợt lố bịch làm sao.

Năm tháng ở chiến trường không làm chị mất đi ý chí chiến đấu, mà ngược lại, những vất vả chỉ khiến cho chị ngày càng trưởng thành hơn, quen dần với mưa bom, đạn lửa. Đây là những dòng chữ chị viết sau khi cùng đồng đội đã qua “một cuộc di chuyển cực khổ vô cùng” tránh oanh tạc của địch:”Bốn giờ đến địa điểm. Và đêm đến khu rừng tràn ngập ánh trăng. Sau khi thăm lại các thương binh không có diễn biến gì trầm trọng, mình trở về nằm vắt tay lên trán ngắm ánh trăng rực rỡ...”.

Gian khổ không thể làm suy giảm tâm hồn lãng mạn của chị, chị yêu cuộc sống này, yêu tiếng chim gù một sớm ban mai trong khu rừng già hoang vắng, yêu những “đêm mùa xuân trăng trong sáng lạ kỳ”. Bởi đó là khi đất nước khổ đau tạm ngưng tiếng súng. Tâm hồn thánh thiện của chị lúc nào cũng hướng về miền Bắc thân yêu.

Trong những giấc mơ thảng thốt hàng đêm, chị mơ về những ngõ phố nhỏ lô xô của Hà Nội, nơi có căn phòng đầm ấm, có mẹ, có ba cùng các em thân yêu của chị. Nhưng tâm hồn trong sáng, cao thượng của chị đã phải gạt bỏ nỗi nhớ thương đau đáu vì bao người xung quanh: “...hãy ưu tiên những người  vào sinh ra tử hai mươi ba năm nay, những thanh niên lớn lên chỉ biết có đau thương căm thù và hy sinh gian khổ. Và hãy ưu tiên cho những người yêu thương của mình trên mảnh đất miền Nam này...”.

Thấp thoáng nhiều lần trong trang viết của chị người đàn ông tên M. Tôi có thể hình dung được những đau khổ, dằn vặt của chị trước mối tình đầu tan vỡ. Nhưng tấm lòng trung trinh của chị vẫn ắp đầy trên từng trang viết, khiến ai đọc cũng cảm thấy thương mến và cảm phục vô cùng.

Đau khổ nhưng chị không gục ngã. Chị tạm gác niềm riêng để sống và chiến đấu cho Tổ Quốc yêu thương. Và chị đã ngã xuống mảnh đất Quảng Ngãi vào ngày 22.6.1970, để lại bao ước mơ còn dang dở, ngày toàn thắng Hà Nội thiếu vắng thêm một người con ưu tú. Nhưng tiếp bước chị lại có bao người con lên đường Nam tiến. Trong đó có một người tên gọi Vương Khả Sơn.

Anh Sơn nhập ngũ tháng 5/1971, sau ngày chị Trâm hy sinh gần 1 năm. Trước đó anh Thạc, chị Trâm, anh Sơn chắc hẳn không hề quen biết nhau, nhưng giữa các anh, các chị đã có sợi dây vô hình gắn kết: đó là Tổ Quốc Việt Nam. Anh Sơn đã tiếp nối con đường của anh Thạc, chị Trâm, đoạn đời quân ngũ của anh phần lớn ở trên chiến trường miền Nam máu lửa.

Bao trùm lên cuốn hồi ký là những hồi ức về mưa bom, đạn lửa, chết chóc, chia ly. Đến lúc này thì tôi đã cảm nhận được trọn vẹn sự khốc liệt kinh hoàng của cuộc chiến. Nào là những tiếng nổ hàng loạt xé trời, địch trút xuống cơ man pháo cối, bom đạn hòng huỷ diệt các anh. Sau những tiếng nổ chát chúa, mùi khói đạn phả nồng nặc, mặt đất vương đầy những máu...Có những trận chiến kinh hoàng của trung đoàn 14 người thì có đến 13 người hy sinh.

Đạn bom kia, kẻ thù kia, các ngươi tàn độc như vậy cũng không thể ngăn nổi ý chí các anh đánh đuổi quân thù. Hãy nghe anh kể về tấm gương hy sinh của đồng đội: “ Sáng sớm, bọn địch nống ra giải toả. Chờ chúng đến gần, anh giơ tay vẫy. Chúng tưởng anh xin hàng, liền nhào đến rất đông. Mười mấy thằng xúm lại vây quanh Định. Chỉ chờ có thế, trong chớp mắt, Định giật nụ xoè. Một tiếng nổ dậy đất. Toàn bộ khối pháo nổ dưới cơ thể anh bị kích nổ. Mười mấy thằng ngụy xung quanh anh tan xác. Còn anh, thân thể đã biến thành tro bụi dưới sức nổ của hơn 8 kg TNT. Bọn địch sống sót kinh hoàng, khiếp đảm và kính phục anh”. Đất nước có các anh, những người con ưu tú, quả cảm chẳng tiếc xương máu của mình vì độc lập tự do. Đau thương tràn ngập trong từng trang viết của anh, nhưng không hề thấy bóng dáng của sự sợ hãi, lay động, nhụt chí trong anh.

Chỉ có chiến đấu, chiến đấu và chiến đấu, đó là con đường duy nhất anh đi, dẫu biết rằng có thể ngày mai anh phải gửi lại tấm thân này nơi chiến trường khốc liệt. Anh cũng viết rất thật những suy tư của người lính:” Ai sẽ là người may mắn còn sót lại sau cuộc chiến? Điều ấy không phải hoàn toàn không có ai nghĩ đến. Cũng có những phút giây giữa hai trận đánh, suy nghĩ ấy chợt loé lên trong đầu mỗi người. Nhưng tất cả chỉ trong khoảnh khắc rất ngắn rồi nó tan biến đi nhường lại cho hào khí của chiến dịch và quyết tâm chiến đấu trong trận cuối cùng... Nét tâm lý ấy là hoàn toàn có lý và cũng dễ cắt nghĩa thôi. Bởi sau bao năm chiến đấu, trải qua bão đạn, mưa bom, ai cũng có khát vọng là ngày toàn thắng may ra mình còn sống để trở về...”

Anh Sơn là người may mắn sống sót và có mặt trong trận quyết  chiến lược cuối cùng. Ngày 30-4-1975, ngày mà  anh Thạc hẹn gặp lại người yêu để trả lời cho câu hỏi về hạnh phúc, ngày đất nước đã hoàn toàn thống nhất, sạch bóng quân thù. Nhưng chính anh Sơn đã viết những dòng đau đáu:” Nhưng rồi chính trong những giây phút bàng hoàng, hả hê, sung sướng đến ngất ngây ấy, chúng tôi chợt đau đớn, ngậm ngùi, tiếc thương nghĩ về đồng đội - những người đã hy sinh. Rất nhiều người vừa mới ngã xuống trước giờ toàn thắng... Có niềm vui chiến thắng nào mà không phải trả giá bằng máu và nỗi đau mất mát!?” Vâng! Xin hãy cho chúng tôi cùng anh thành kính thắp nén nhang tri ân những người đã ngã xuống năm xưa, những người đã hiến dâng trọn đời mình cho dân tộc!

Cuộc chiến đã đi qua hơn 30 năm, nhưng sự tàn khốc, mất mát, hy sinh vẫn còn đó. Chị Trâm, anh Thạc đã ra đi mãi mãi không về, anh Sơn đã gửi lại một phần xương máu của mình trên đất mẹ thân yêu. Gia  đình anh Thạc, chị Trâm mất đi những người con ngoan ngoãn - thảo hiền, đất nước mất đi những người con ưu tú nhất. Nhưng còn đây những dòng chữ bất tử các anh, các chị đã để lại cho đời. Giá trị lớn nhất của những cuốn nhật ký này chính ở sự thật thà, dung dị. Các anh, các chị đơn giản viết chỉ để ghi dấu lại những tâm tư, suy nghĩ của riêng mình, để có thêm niềm tin khi bước vào cuộc chiến.

Nhưng giờ đây, khi đọc xong những dòng chữ này, chúng tôi lại thấy rõ hơn trách nhiệm sống của thế hệ mình với Tổ Quốc Việt Nam. Khi viết những dòng này, cho tôi xin được dẫn lại những lời tôi rất tâm đắc của anh Thạc, những dòng anh đã viết hơn ba mươi năm nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị, mang đậm hơi thở của thời đại:” Thường khi do tác động của văn học và sách báo tuyên truyền, người ta có suy nghĩ và cảm xúc tiến bộ, khá mãnh liệt là đằng khác. Nhưng ít ai kiểm tra mình xem tình cảm và suy nghĩ đó có thật là bản chất của mình hay không. Có thật nó bắt nguồn rễ sâu xa từ tận cùng cảm nghĩ của mình, xem mình có lấy những rung cảm tốt đẹp đó làm quan niệm sống, chứ không phải làm một thứ đồ trang sức rủng roẻng?”. Vâng! Có thể ở đâu đó trong cuộc sống này vẫn còn những con người như vậy, nhưng xin các anh chị hãy tin là vẫn còn rất nhiều người thực sự sẵn sàng vì đất nước thân yêu.

Khép lại những trang “Nhật ký chiến tranh” của các anh, các chị tôi vẫn thấy vang vọng đâu đây tiếng hát cao vút của chị Trâm, tiếng ngâm thơ trầm ấm của anh Sơn, anh Thạc. Chiến tranh, đau thương, mất mát trước các anh, các chị trở nên vô nghĩa, họng súng quân thù chỉ càng thêm hun đúc niềm tin:

“Chiến tranh sẽ lùi qua bao thời gian

Màu xanh ước mơ thay lớp tro tàn

Mảnh vườn đơn sơ đẹp căn nhà mới

Gửi làn hương bay nhớ thương”

Vâng! Mong ước giản dị của thế hệ các anh các chị giờ đây đã trở thành hiện thực. Đất nước thống nhất đã mấy chục năm rồi, Tổ Quốc ta ngày càng giàu đẹp, xanh tươi. Trong số chúng tôi, những người đang sống hôm nay, ai sẽ là người  xứng đáng để viết tiếp “những dòng đông đúc và vui vẻ” như anh Thạc, anh Sơn và chị Trâm hằng mong ước?. 

Kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh, các chị !

                                            Hà Nội, những ngày cuối năm 2007

Comments (0)add comment

Write comment
quote
bold
italicize
underline
strike
url
image
quote
quote
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley
Smiley

Copyright 2007. All Rights Reserved.
busy
 

Các bài khác
Patient to make known

MESSENGENR
tuanvuong1982
04.9722218